Nghề trồng dừa ở Bến Tre, một sắc thái văn minh nông nghiệp đặc biệt

Xem kết quả: /  số bình chọn: 22
Bình thườngTuyệt vời 

Bốn bề đều có sông nước bao bọc, Bến Tre có một hệ thống đường thủy gồm những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên ), ngược về phía thượng nguồn sông Mekong và một hệ thống kênh, rạch chằng chịt đan vào nhau như những mạch máu chảy khắp ba dải cù lao nên rất thuận tiện cho giao thông vận tải cũng như thủy lợi.

Dừa là loại cây trồng lâu năm chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống cây trồng của Bến Tre. Cây dừa và hoạt động sản xuất, chế biến dừa đã tạo nên một diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường đặc biệt trên vùng đất hạ nguồn Mekong. Diện mạo ấy không ngừng biến đổi và gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển xứ dừa Bến Tre.

Cả nước hiện có khoảng 200.000ha trồng dừa thì Bến Tre là tỉnh dẫn đầu trên cả hai mặt: diện tích (trên 52.000ha) và sản lượng (410 triệu quả/năm). Bến Tre là những cụm cù lao cuối cùng nhận đẫm phù sa của dòng Mekong trước khi chảy ra biển cả, nhờ đó cây dừa cũng xanh tốt hơn, năng suất cao hơn các vùng khác. Ba huyện có diện  tích dừa lớn ở Bến Tre là Giồng Trôm, Châu Thành và  Mỏ Cày (khi chưa tách huyện, nay là Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc).

54

 

Văn hóa sản xuất của cư dân vùng hạ nguồn Mekong – vùng rừng dừa, sông nước Bến Tre

Chúng ta đều biết lao động sản xuất là một thuộc tính rất quan trọng, nó quyết định diện mạo của mỗi nền văn hóa. Dân cư sống trong vùng sản xuất lúa gạo thì việc sản xuất và chế biến các sản phẩm lúa gạo mang những sắc thái riêng. Khác với sản xuất lúa gạo, dân cư vùng rừng dừa - sông nước Bến Tre do hoàn cảnh sinh sống với một môi trường tự nhiên đặc biệt ở vùng hạ nguồn Mekong đã lấy nghề trồng dừa và khai thác chế biến các sản phẩm từ cây dừa cùng với nghề khai thác chế biến các nguồn lợi trên sông nước làm hoạt động sinh sống chủ yếu. Bởi vậy, khi xem xét các hoạt động sản xuất mang tính đặc trưng này của cư dân sống trong rừng dừa - sông nước, chúng ta sẽ nhận diện bản sắc văn hóa thông qua hoạt động lao động sản xuất của người Bến Tre.

 

Những nghề liên quan đến môi trường rừng dừa đặc trưng của người Bến Tre

Nghề trồng dừa ở Bến Tre, một sắc thái văn minh nông nghiệp đặc biệt: Lưu dân Bến Tre bắt đầu công cuộc khai phá mảnh đất cù lao cửa biển vào khoảng thế kỷ 17, lúc đầu người ta chọn những vùng đất cao ráo, có nguồn nước ngọt, khí hậu ít độc hơn vùng rừng rậm để sinh sống, khai phá cải tạo thiên nhiên.

Vùng đất này có lắm sông, nhiều rạch và độ mặn dao động theo mùa nên việc lựa chọn cây dừa, một loại cây đặc biệt thích nghi với vùng lợ, là một lựa chọn rất phù hợp với môi trường nơi đây.

Khác với cư dân trồng lúa hay đánh cá, nuôi trồng thủy sản, nông dân trồng dừa ở Bến Tre có một nền văn hóa sản xuất rất đặc trưng được thể hiện ở một số mặt sau đây: Lên liếp trồng dừa là một giải pháp biến rừng hoang đất trũng thành một môi trường lý tưởng để trồng dừa. Việc đào mương lên liếp trồng dừa có thể nói là một trong những lối ứng xử độc đáo của người dân Bến Tre với môi trường sống. Họ đã tạo nên một môi trường thuận lợi cho cây dừa sinh sống và phát triển, thuận lợi cho việc tưới tiêu, thu hoạch và nuôi thủy sản đồng thời với việc trồng dừa. Nhờ có hệ thống mương cộng với chế độ bán nhật triều của sông rạch xứ dừa người ta có thể lấy bùn đẫm nặng phù sa để vun đắp cho cây xanh tốt. Và cũng nhờ hệ thống mương mà người ta có thể “lùa dừa” về bến một cách dễ dàng.

55

 

Có thể tóm lược quá trình hình thành rừng dừa như sau: Buổi đầu bắt tay trồng dừa người ta đo đạc tính toán kỹ lưỡng về cự ly, mật độ rồi cặm vè (đánh dấu) sau đó đắp những cái mô ở những vị trí đã định. Mô có đường kính độ 1m, khoảng cách giữa các mô khoảng 7,5m là vừa đủ để dừa có thể phát triển tốt. Giữa các mô dừa vẫn có thể trồng màu, cấy lúa cho đến khi dừa trưởng thành. Từ tháng 3 đến tháng 6, cuốc giồng trồng dưa leo, cà tím, khoai lang… Từ tháng 6 trở đi có thể trồng khoai mỡ hoặc ban giồng khoai xuống mà cấy lúa mùa. Phù sa bồi tụ vào các mương khoai, mỗi mùa cứ dày lên. Người ta lấy phù sa đắp lên mô dừa. Mô dừa mỗi năm mỗi cao mỗi rộng hơn cho dừa đủ đất phát triển.

Độ ba, bốn năm sau, khi dừa sắp ra lưỡi mèo (búp hoa), người ta thôi trồng màu trồng lúa mà đào các mương khoai sâu xuống lấy đất đắp nối các mô lại theo hàng dọc đã định tạo thành bờ, tuy còn thấp nhưng đã thành hình dáng của một vườn dừa. Trên bờ đất, người ta tiếp tục trồng xen đu đủ, ớt, cà, dưa leo... Phân, nước bón cho các loại hoa màu cũng chính là bón cho cây dừa.

Ngày nay đi trong rừng dừa không ai có thể hình dung được cái buổi mới trồng dừa. Phải mất nhiều năm phù sa bồi tụ mới có thể biến ruộng thấp thành vườn dừa. Nhờ hệ thống kênh mương mà phù sa có thể vào tận mọi ngõ ngách của vườn. Trước lúc nước ròng có một khoảng thời gian nước đứng, ấy là lúc phù sa lắng lại trước khi nước rút ra để chuẩn bị cho một chu kỳ mới. Trong mùa nước nổi, bao rác rưởi, sâu bọ sẽ bị cuốn đi và nước ngọt rửa phèn mặn làm cho vườn dừa mỗi ngày một xanh tốt.

Diện tích dừa ở Bến Tre mỗi năm tăng dần và nơi đây được gọi là xứ dừa bởi có diện tích và sản lượng dừa cao nhất nước.

Việc chọn giống ươm dừa phải hết sức kỹ càng vì dừa trồng xuống phải 4 - 5 năm mới cho trái, và có thể khai thác trên 50 năm. Nguyên tắc chọn giống theo phương thức “dừa tơ, cau lão”, nghĩa là chọn giống ở những cây dừa tơ độ 10 - 15 tuổi. Dừa mẹ có một gốc to vừa phải không thưa lá, quày dừa sai quả, không bỏ bẹ, tức quày luôn nằm trên bẹ nếu không sẽ bị sút buồng; trái dừa to vừa, vỏ mỏng, cùi dày. Muốn lấy dừa giống đợi dừa qua giai đoạn rám vỏ, cắt nguyên buồng dòng dây xuống đất không được để rơi làm dập quả. Người kỹ tính am tường việc chọn giống thường bỏ những quả đầu và những quả cuối. Còn lại cắt rời từng quả thả xuống nước.Theo kinh nghiệm quả nào “bơi đứng” phần cuống thẳng lên là tốt nhất, sẽ có mọi đặc tính giống cây mẹ. Cũng có người đánh dấu phần nổi lên trên, khi ươm cũng đặt đúng chiều này thì cây mới lên mầm tốt. Dừa giống đặt nơi đất tốt có độ ẩm thích hợp, khi dừa lên mộng độ gang tay, rễ vừa bén đất thì đem trồng. Không nên để quá to khi bứng đi bị đứt rễ, dừa phát triển kém.

Trong vườn người ta trồng nhiều giống dừa khác nhau để dừa thụ phấn chéo sẽ lai tạo thành những giống dừa ưu việt.

Dừa  được giật bằng sào hay trèo lên cây hái. Dựa vào đặc điểm sông nước và chế độ bán nhật triều và đặc tính “nổi” của dừa - người trồng dừa tìm ra cách vận chuyển dừa vừa nhẹ nhàng vừa hiệu quả. Cách thu hoạch này chỉ có ở vùng sông nước.

Cách 1: Khi đào mương, lên liếp trồng dừa người ta có chủ ý đào sao cho các mương ăn thông với nhau và chảy về hướng gần nhà nhất. Đến kỳ thu hoạch người ta chặn một tấm đăng ở đầu mương này; khi bẻ dừa người ta ném tất cả xuống mương, lúc nước “ròng” dừa sẽ tự trôi về, chủ vườn chỉ việc vớt lên.

Cách 2: Không đợi nước ròng, nhảy xuống mương dùng tay lùa dừa từ các mương nhánh về bến, công việc cũng nhẹ nhàng. Nếu phải gánh số dừa ấy về nhà công việc sẽ nặng nhọc bội phần.

Trong vườn dừa thường được trồng xen các loại cây ăn trái, tùy theo sinh thái của mỗi vùng mà lựa chọn loại cây trồng xen thích hợp, vùng nước ngọt trồng cacao, bòn bon, măng cụt. Vùng nước lợ trồng các loại cây có múi, trồng cỏ nuôi bò. Việc trồng xen mang lại hiệu quả kinh tế cao so với những vườn chỉ chuyên trồng dừa, qua đó ta thấy sự thông minh, năng động, sáng tạo của cư dân xứ dừa trong quá trình chinh phục và cải tạo thiên nhiên.

Người xứ dừa khai thác cây dừa và các tài nguyên động, thực vật khác trong hệ sinh thái một cách khoa học và sáng tạo. Họ biết sống hòa thuận với thiên nhiên, biết tận dụng nguồn nước, nguồn phù sa vô tận vào việc vun bồi, giữ gìn hệ sinh thái ổn định lâu dài.

 

Tính văn hóa cao của cư dân xứ dừa trong ứng xử với môi trường tự nhiên được thể hiện qua việc giữ gìn đa dạng sinh học, khai thác tài nguyên một cách hợp lý bền vững, sống hài hòa với môi trường tự nhiên.

Nghề bồi vườn: Trong nghề trồng dừa, một trong những khâu chăm sóc không thể thiếu là bồi đắp bùn cho từng gốc dừa mà người ta quen gọi là bồi vườn. Đây cũng là một nghề lao động đặc thù ở xứ dừa Bến Tre.

Hàng năm người trồng dừa cần làm cỏ, bồi bùn vài lần, bổ sung ít phân chuồng, phân hóa học đủ giúp dừa cho trái quanh năm.

Việc bồi bùn thường được tiến hành vào mùa khô, tùy thời gian thích hợp mà chủ vườn dặn trước với thợ. Dịp này người ta thường đợi con nước kém, ròng sát vào buổi sáng để tháo hết nước trong mương, bắt tôm cá xong lúc 7 - 8 giờ thì bắt đầu công việc. Bùn nhão thường dùng gàu xúc, bùn dẽo dùng tay móc quăng lên hai bờ. Vùng Mỏ Cày người ta đợi cho bùn khô mới dùng cuốc trải ra khắp vườn. Vùng Giồng Trôm trái lại, họ dùng tay khỏa bùn ngay và khéo léo đắp các mép bờ vuông vắn rất đẹp. Do bùn tích tụ phù sa châu thổ sông Mekong nên dù bồi cách nào dừa cũng tốt.

Thợ bồi vườn là người trong vùng, có người chuyên nghiệp ăn công nhật hoặc lãnh khoán với giá thỏa thuận nhưng cũng có người làm theo kiểu vần công đổi công, qua lại giúp nhau. Đây là công việc dành cho nam giới nhưng có nơi thiếu lao động, phụ nữ cũng tham gia.

Nghề phát vườn (làm cỏ vườn): Từ xưa trong dân gian ta đã có câu “Công làm là công bỏ, công làm cỏ là công ăn”. Đó là câu tục ngữ nói lên tầm quan trọng trong việc chăm sóc ruộng lúa sao cho khỏi bị cỏ dại lấn át. Đối với vườn dừa, tuy cỏ dại không lấn nổi cây dừa nhưng nếu không làm cỏ thì năng suất cũng bị hạn chế và khu vườn sẽ nhanh chóng bị cỏ dại xâm lấn khác nào một khu rừng hoang. Bởi thế, người trồng dừa cũng phải thường xuyên làm cỏ và thậm chí có hẳn một nghề, đó là phát cỏ vườn.

Mỗi năm người ta phải làm cỏ vườn vài ba lần tùy theo mức độ phát triển của cỏ. Những nhà có vườn rộng cỏ nhiều, người trong nhà làm không xuể thì phải thuê thêm thợ đến làm cỏ. Cỏ thấp cỏ ít chỉ cần lao động nữ dùng dao mà rẫy. Cỏ cao có lẫn nhiều cây tạp phải thuê thêm thợ khỏe dùng phảng mà phát.

Cái phảng là dụng cụ chuyên dùng để phát cỏ không dùng chung cho mọi việc như dao búa. Tùy theo sức mình mà người thợ phát cỏ đặt thợ rèn riêng cái phảng cho vừa sức vừa tay. Những người thuận tay trái thì phải làm phảng theo chiều trái mới phát được. Phảng là con dao dài có cán độ 15 - 20 cm, cổ cong, thường  dài khoảng 80 - 90 cm, lưỡi phảng rộng khoảng 6cm,  khá nặng để có thể vừa phát cỏ vừa chặt cây ngọt lịm. Một tay cầm phảng một tay cầm cái cù nèo cong cong để cào cỏ rác về một phía, cứ thế người ta phát hết bờ này sang bờ khác. Thường mỗi người phát một bờ, nếu chung một bờ phải ở một khoảng cách an toàn, tai nghe thấy tiếng nhau cho đỡ cảm giác đơn độc. Khi đi làm họ luôn mang theo một viên đá mài để mài phảng cho thật sắc. Người thợ phát cỏ thường đem theo cơm nếp ăn giữa bữa. Cũng như nghề giật dừa, nghề phát cỏ vườn là một nghề có việc làm thường xuyên. Quanh năm, người thợ làm hết  vườn nhà này sang vườn nhà khác.

 

Nghề giật dừa (nghề thu hoạch dừa): Tỉnh Bến Tre có trên 600 ấp trồng nhiều dừa, mỗi ấp có một số người làm nghề giật dừa. Những người làm nghề giật dừa ngoài sức khỏe tốt còn phải nhanh nhẹn, dẻo dai. Họ leo dừa nhanh như sóc. Đây là một nghề khá vất vả, nghề này chỉ dành cho nam giới (cá biệt có nơi phụ nữ cũng tham gia, dẻo dai không kém gì nam giới). Người khỏe mạnh nhiều nhất cũng chỉ có thể làm nghề này đến trên dưới 50 tuổi rồi phải chuyển nghề. Tuy vậy cũng có người dù tuổi đã trên 70 vẫn còn leo dừa được nhưng chỉ đủ sức bẻ dừa nhà.

Bộ dụng cụ của người giật dừa gồm có: câu liêm, sào giựt dừa, nài leo dừa,  xà no để chích dừa.

Sào giật dừa thường được làm bằng cây tầm vông hoặc bằng cây mum, đầu sào có gắn câu liêm bằng sắt. Tùy theo dừa cao hay thấp có thể nối thêm 2 hay 3 sào. Có nhiều loại sào như sào nhất, sào nhì, sào ba tùy theo độ dài.

Nài leo dừa bện bằng dây chuối cột lại thành vòng tròn, có đường kính khoảng 20 - 30cm. Nài có tác dụng giữ hai bàn chân ôm sát thân dừa, giúp cho người leo dừa không bị mỏi, giữ an toàn cho người leo. Với những cây dừa thấp người leo lão luyện không cần nài.

Xà no chích dừa: dùng để chích dừa khi rụng xuống mương, làm bằng đoạn tầm vông dài khoảng 3m, đầu có mũi nhọn kèm theo một cái móc cong để móc những quả dừa bị rụng lún trong bùn.

Người giật dừa phải dùng sức nâng chiếc câu liêm dài lên ngang ngọn dừa, một động tác giật phải đổ cả một buồng dừa.

Người làm nghề giật dừa phải luôn ngửa mặt lên trời, vai, cổ bị đau mỏi nhiều. Đối với những cây dừa cao người ta dùng cây sào nhất để giật. Với những cây dừa lão quá cao, người thợ phải dùng nài leo lên ngọn mới bẻ được. Dừa giật xuống phải móc, lôi những buồng dừa rơi trong cỏ, rớt xuống mương gom lại một chỗ. (Ngày xưa, có những chủ vườn giàu có, mỗi lần giật dừa cần trên 10 thợ, dừa chất đống cao như ngọn đồi, thợ lột dừa lột vỏ dừa nhiều ngày mới xong).

Riêng đối với giống dừa dùng để uống nước, thợ phải leo lên ngọn, dùng dây dài chuyển nhẹ buồng dừa xuống để quả dừa không bị vỡ.

Mỗi ngày nếu giật giỏi người thợ giật được khoảng 4 công dừa (4000m²), khoảng 1.500 quả dừa, cứ 100 dừa (1 chục dừa 12 quả, 100 dừa bằng 120 quả, theo cách tính của người Bến Tre) được trả theo đầu cây, giá cả tùy giá dừa cao hay thấp.

Một đặc điểm thường thấy của người làm nghề leo dừa là hai cẳng tay chai sạn, kiến đốt không còn cảm giác đau. Một đặc điểm khác nữa do cơ thể quanh năm “tẩm” mùi vỏ thân dừa nên người khác rất dễ nhận ra cái mùi rất riêng của họ.

 

Như đã nói đây là một nghề vất vả, dân gian có câu “ăn cơm dưới đất, làm việc trên trời”, khó tránh rủi ro, khi gặp dừa sút bẹ, khi gặp rắn lục do hốt hoảng mà té hoặc bị ong bần, ong vò vẽ tấn công cho một trận nhớ đời. Chuyện kiến vàng kiến hôi bu tiết chất dịch trúng vào mắt cay xè hoặc bị kiến đốt khắp người là chuyện thợ nào cũng gặp. Có người bị bò cạp dừa cắn vài phút sau nổi cơn nóng lạnh, đau nhức vô cùng.  Nếu người thợ phán đoán điểm rơi của quả dừa thiếu chính xác, hoặc bị dừa rụng bất ngờ thì việc dừa văng vào người là chuyện khó tránh, đã có nhiều người tử vong vì té dừa hoặc dừa rơi trúng đầu.

 

Ngày nay nhiều ngành nghề đã cơ giới hóa nhưng nghề leo dừa, giật dừa vẫn phải làm thủ công. Thường mỗi chủ vườn dừa có một tốp thợ quen, thân tình, làm ăn lâu dài. Mỗi người thợ giật dừa thường làm thuê cho vài ba chục chủ vườn trồng dừa nên quanh năm suốt tháng đều có việc làm. Họ có lịch riêng, làm thuê cho hết chủ vườn này sang chủ vườn khác. Mỗi tháng một lần, cứ đến ngày thu hoạch chủ vườn lo chuẩn bị trà bánh để đãi thợ. Cũng có khi “trúng mùa”, làm ăn khấm khá, chủ vườn làm bữa rượu để cuối ngày “lai rai” với cánh thợ.

Sinh ra và lớn lên trong vườn dừa, giật dừa cũng là một nghề có thể nuôi sống bản thân, gia đình. Tuy vất vả nhưng người thợ giật dừa cũng có niềm vui khi năng suất vườn dừa ngày càng tăng, tạo công ăn việc làm quanh năm suốt tháng, tuy không giàu nhưng không thất nghiệp. Nghề giật dừa tuy cực mà vui. Có hôm may mắn tìm được tổ ong ruồi đẫm mật hay ổ nấm mối trong vườn họ đều được chủ vườn vui lòng tặng thợ đem về ăn. Có người khi đi làm dắt theo chó săn, gặp chuột dừa phóng xuống là chúng tóm gọn mang về cho chủ làm món chuột quay chảo. Thường thì chủ thợ chia nhau cùng hưởng, vui vẻ đôi đàng.

 

Có thể nói quan hệ giữa chủ vườn dừa và người giật dừa là quan hệ hợp tác phân công lao động thân tình. Đây là một thế ứng xử đặc biệt của người xứ dừa.

Việc trồng trọt, chăm sóc cũng như thu hoạch trong vườn dừa được chia ra thành nhiều hình thức lao động khác nhau, có sự phân công hợp lý để giải quyết tốt công việc giúp cho vườn dừa ngày thêm xanh tốt. Ngoài phần tự chăm sóc của các chủ vườn dừa, người ta còn sử dụng một lực lượng đông đảo những người làm thuê cho mỗi công đoạn. Có những người làm thuê đạt đến trình độ chuyên nghiệp như nghề giật dừa, lột vỏ dừa nhưng cũng có những công đoạn chỉ cần sức lực như bồi bùn, phát cỏ.

 

Cách thức phân ra những lao động có tính chuyên nghiệp cho từng đầu việc là một lối tổ chức thích ứng và một kiểu hợp tác trong lao động. Nếu không có kiểu hợp tác này thì từng gia đình khó có khả năng giải quyết tốt việc chăm sóc thu hoạch và chế biến với một diện tích và sản lượng dừa lớn. Đây là cách ứng xử trong phân công lao động để giải quyết tốt công việc sản xuất.

Ngoài ra, cư dân Bến Tre còn có nghề khai thác lá dừa nước và chằm lá, nghề làm nhà từ gỗ dừa, nghề làm chỉ xơ dừa, nghề làm than thiêu kết (từ gáo dừa), nghề thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu dừa, nghề làm kẹo dừa, làm bánh tráng bánh phồng... nhưng do khuôn khổ hạn chế của bài viết này nên không thể nêu hết ra đây được.

 

Trong xu thế hội nhập hiện nay, nhất là sau khi nước ta đã gia nhập WTO, Bến Tre có nhiều điều kiện phát huy lợi thế xuất khẩu các sản phẩm từ dừa, giúp hàng ngàn hộ dân ổn định cuộc sống, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Tỉnh rất chú trọng đến công tác thủy lợi, khuyến nông, bảo vệ thực vật… cùng với những chương trình khuyến khích trồng dừa, ban hành chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực chế biến các sản phẩm từ dừa. Ngành nông nghiệp đã triển khai dự án phát triển trồng mới 5.000 ha dừa ở 55 xã của 5 huyện. Hàng năm Hội Nông dân lập danh sách đăng ký trồng dừa, hỗ trợ cây giống cho nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người trồng dừa, diện tích đất trồng dừa ngày càng mở rộng.

 

Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012 với chủ đề "Bến Tre trên đường hội nhập và phát triển” sắp diễn ra từ ngày 4/4/2012 đến 10/4/2012 tại thành phố Bến Tre cũng là hoạt động nhằm giúp cho tỉnh Bến Tre có điều kiện quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại, từng bước nâng cao năng lực trình độ trong sản xuất chế biến dừa. Đồng thời cũng là dịp gặp gỡ, giao lưu và tôn vinh những người trồng dừa, các doanh nghiệp chế biến dừa xuất khẩu; quảng bá hình ảnh xứ dừa Bến Tre, tạo ra những tiền đề quan trọng để Bến Tre tiếp tục phát triển “kinh tế dừa”, đồng thời gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của vùng đất được mệnh danh “xứ dừa”.

 

nguồn: bentre

 

Tin tức du lịch

Bế mạc Festival Dừa Bến Tre lần thứ III năm 2012: Vươn xa xứ dừa Việt Nam

Bế mạc Festival Dừa Bến Tre lần thứ III năm 2012: Vươn xa xứ dừa Việt Nam

Sau gần 1 tuần lễ tưng bừng, sôi động với các chương trình, hoạt động, sự kiện nổi bật, tối 10/4/2012, Festival Dừa Bến Tre...

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đăng quang Người đẹp xứ Dừa lần thứ X năm 2012

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đăng quang Người đẹp xứ Dừa lần thứ X năm 2012

Tối 10/4/2012, Lễ đăng quang Người đẹp Xứ dừa lần thứ X năm 2012 đã diễn ra tại sân khấu nổi hồ Trúc Giang, thành...

Xứ dừa tưng bừng với Lễ hội đường phố

Xứ dừa tưng bừng với Lễ hội đường phố

Hòa trong không khí náo nức của các hoạt động trong khuôn khổ Festival Dừa Bến Tre lần thứ III năm 2012, vào lúc 19h...

Ăn gì?

Bánh dừa Giồng Luông

Bánh dừa Giồng Luông

Làng Giồng Luông xưa kia nay thuộc xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Ở Giồng Luông, từ cuối thế kỷ 19, ngôi...

Hương dừa Bến Tre

Hương dừa Bến Tre

Bến Tre - nổi tiếng với kẹo dừa, nhưng vẫn còn rất nhiều món ngon từ dừa đang chờ bạn khám phá ở xứ sở...

Sầu riêng Cái Mơn

Sầu riêng Cái Mơn

Cái Mơn, vườn trái cây nổi tiếng của Bến Tre, là quê hương của trái sầu riêng. Về miệt vườn, hễ rủ nhau đi ăn...

Ở đâu

Oasis Hotel

Oasis Hotel

Loại: 3 saoPhòng Giường ĐôiPhòng 2 Giường ĐôiPhòng Gia Đình (2 Người Lớn + 2 Trẻ Em)

Khách sạn Hùng Vương

Khách sạn Hùng Vương

Loại:2 sao Dịch vụ: Internet, Truyền hình cáp, Phòng gia đìnhTiện ích: Trung tâm, Gần khu mua sắm

Khách sạn Đồng Khởi

Khách sạn Đồng Khởi

15 Hai Bà Trưng, P.4, Tp.Bến Tre, Bến TreLoại: 2 sao